Đà Lạt ở trong khoảng từ 11º52' -12º04' vĩ độ Bắc và 108º20' - 108º35' kinh độ Đông, được giới hạn bởi ngọn Langbian cao 2.167m ở phía bắc, dãy núi Voi cao 1.756m bao quanh phía tây và phía nam, ngọn Lap-Bé Nord cao 1.732m phía đông bắc và ngọn Dan-se-na cao 1.600m ở phía đông. Tiếp theo bên trong là những quả đồi đỉnh tròn thấp dần sườn thoai thoải. Xen giữa chúng là những thung lũng, phần lớn là khu dân cư và trồng trọt. Hồ Xuân Hương nằm giữa được coi là trung tâm của thành phố, ở độ cao 1.475m. Vì vậy Đà Lạt gần có dạng lòng chảo hình bầu dục.
Do rừng, đồi hoang chiếm với diện tích lớn nên đất dành cho nông nghiệp ở Đà Lạt không nhiều, chỉ khoảng 3.600ha, chủ yếu trồng rau. Diện tích rừng Đà Lạt có chừng 16.400ha. Trong đó, rừng thông chiếm một diện tích đáng kể, hơn 10.300ha, là vật "trang sức" của thành phố. Thật vậy, những giải rừng thông đã làm cho Đà Lạt thêm duyên dáng. Hơn nữa, nó cũng đóng một vai trò tích cực trong việc tạo nên những nét đặc sắc về tiểu khí hậu, môi sinh ở nơi này. Không khí trong rừng thông trong lành, dễ chịu là điều kiện tốt cho sự nghỉ dưỡng. Đi sâu vào thành phố, du khách sẽ vừa khám phá một "bảo tàng" của các thác nước, những hồ đẹp, thung lũng hoa và đồi cỏ vừa thưởng thức những sản phẩm Đà Lạt bao gồm nhiều loại trái cây: hồng, mận, đào, bơ..., nhiều món ăn dân tộc độc đáo và các hàng lưu niệm của riêng vùng Đà Lạt. Ngày nay, đến Đà Lạt du khách sẽ cảm nhận được một nét kiến trúc rất nên thơ, lộng lẫy mà kín đáo qua từng ngôi biệt thự ẩn mình trong cây lá hoặc rực rỡ bởi được phủ lên cả một rừng hoa.
Đà Lạt mang đậm trong mình bản sắc văn hoá Tây Nguyên đẹp như huyền thoại. Vào những ngày hội làng, ngày vui của gia đình, du khách sẽ được xem họ múa, hát, chơi nhạc bằng những nhạc cụ độc đáo mà âm thanh của nó nghe như tiếng gió hú, tiếng thác chảy trên ghềnh đá. Với những ưu thế nội tại, Đà Lạt có thể cùng lúc tổ chức nhiều loại hình du lịch khác nhau như: du lịch nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái, du lịch văn hóa - lễ hội, du lịch thể thao, du lịch hội nghị, du lịch kết hợp nghiên cứu khoa học...Thành phố Đà Lạt hơn 100 năm tuổi đang trở thành một trong những địa danh du lịch hấp dẫn nhất đối với du khách trong và ngoài nước.
Tham gia chuyến du lịch 4 ngày 3 đêm, du khách sẽ có cơ hội được tới những thắng cảnh đẹp của thành phố mộng mơ.
Ngày thứ nhất, du khách sẽ khởi hành tới Đà Lạt. Sau khi tới nơi, khách sẽ tham quan tượng đài Đức Mẹ, suối An Bình và ăn trưa tại thị xã Bảo Lộc. Chiều tới, khách sẽ được tới thác Pongour và nghỉ đêm tại Đà Lạt.
Ngày thứ hai, du khách sẽ tham quan vườn hoa thành phố, chiêm ngưỡng nét đẹp của các loài hoa đang khoe sắc, thưởng thức hương vị đặc sản và mua sắm các loại mứt tại lò mứt Đà Lạt. Khách cũng được tới đồi Mộng Mơ có mô hình thu nhỏ Vạn Lý Trường Thành, hầm rượu Mộng Mơ Tửu, Đà Lạt Sử Quán. Sau đó, đoàn ghé thăm nhà thờ Domain De Marie.
Chiều tới, đoàn tham quan Thiền Viện Trúc Lâm, ngắm cảnh hồ Tuyền Lâm. Du khách sẽ được tham quan hồ Than Thở, đồi thông Hai Mộ, rừng Ái Ân, khu Xã Lát, xem múa hát và giao lưu văn hóa với người dân tộc, ăn thịt rừng, uống rượu Cần.
Ngày thứ ba, khách sẽ tham quan núi Lang Biang, chinh phục đỉnh Lang Biang bằng xe đặc chủng, tham quan Biệt điện mùa hè, tham quan và mua sắm tại chợ Đà Lạt.
Ngày cuối cùng, trên đường ghé về Sài Gòn, đoàn ghé tham quan Làng thổ cẩm và mua quà cho bạn bè người thân để kỷ niệm chuyến du lịch đáng nh
Bắc Giang là tỉnh ở miền trung du và giáp với châu thổ đồng bằng Bắc bộ.
Phía bắc và đông bắc giáp tỉnh Lạng Sơn, phía tây và tây bắc giáp Hà Nội, Thái Nguyên, phía nam và đông nam giáp tỉnh Bắc Ninh, Hải Dương và Quảng Ninh. Địa hình gồm có đồng bằng, trung du, miền núi.
Khí hậu: chia làm 2 mùa: mùa đông từ tháng 10 đến tháng 3; mùa hè từ tháng 4 đến tháng 9. Nhiệt độ trung bình năm 24ºC.
Tiềm năng phát triển kinh tế và du lịch
Lễ hội Yên Thế
Bắc Giang là một vùng có nhiều cảnh đẹp và di tích lịch sử như rừng cấm nguyên sinh Khe Rỗ, khu di tích Suối Mỡ, di tích thành Xương Giang... Nhiều hồ chứa nước lớn tạo nên phong cảnh kỳ vĩ, phát triển được tiềm năng du lịch như hồ Cấm Sơn, Khuôn Thần.
Bắc Giang là một tỉnh vừa có truyền thống lễ hội văn hoá của đất Kinh Bắc, vừa có hội xuân của các dân tộc ít người.
Giao thông
Giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy đều tương đối thuận tiện.
Đường sắt: Từ Bắc Giang có thể về thủ đô Hà Nội, lên Lạng Sơn, sang Thái Nguyên và vùng công nghiệp mỏ Quảng Ninh.
Đường bộ: Thành phố Bắc Giang cách trung tâm Hà Nội 51km. Hệ thống đường bộ thuận lợi có quốc lộ 1A chạy qua. Nhiều tuyến tỉnh lộ và huyện lỵ.
Đường thuỷ: Tỉnh Bắc Giang có nhiều sông lớn (sông Cầu, sông Thương, sông Lục Nam) chảy qua tỉnh, thuận tiện cho vận tải đường sông, góp phần tưới tiêu nước phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, du lịch.
Bắc Ninh là một tỉnh thuộc vùng đồng bằng và trung du Bắc bộ. Phía bắc giáp Bắc Giang, phía đông và đông nam giáp Hải Dương, phía tây giáp Hà Nội, phía nam giáp Hưng Yên. Tỉnh có nhiều sông lớn, vì vậy hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt và đường sông đều thuận lợi, lại nằm giáp thủ đô Hà Nội nên có nhiều thuận lợi trong việc phát triển kinh tế và văn hoá. Địa hình chủ yếu là đồng bằng, có nhiều địa danh đẹp đã nổi tiếng trong thơ ca: sông Cầu, núi Thiên Thai... Nhiệt độ trung bình năm khoảng 24°C.
Tiềm năng phát triển kinh tế và du lịch
Khu mộ tháp chùa Dâu
Theo các kết quả nghiên cứu khảo cổ học thì người Việt cổ đã cư trú tại Bắc Ninh từ mấy ngàn năm trước đây. Những dấu vết còn lại về đô thị cổ Luy Lâu đã chứng minh rằng Bắc Ninh từng là một trong những đô thị cổ, một trung tâm thương mại khá phồn thịnh của người Việt từ thế kỷ thứ 2 tới thế kỷ 10. Kinh Bắc là vùng đất đạo Phật sớm thâm nhập ngay từ những thế kỷ đầu công nguyên. Đến đời nhà Lý, Phật giáo đã đạt đến độ cực thịnh. Nhiều chùa, tháp được xây dựng ở đất Kinh Bắc và đã trở thành di tích kiến trúc - văn hoá. Bắc Ninh là tỉnh có nhiều di sản vật thể và phi vật thể thu hút khách thập phương đến tham quan, tìm hiểu.
Bắc Ninh là một vùng đất hội tụ của nhiều dấu tích văn hoá và tôn giáo lớn; vùng đất đã hình thành nhiều huyền thoại đi vào tâm linh của cư dân người Việt; vùng đất đã sản sinh ra vương triều Lý - một triều đại đã khai mở nền văn minh Đại Việt và phát triển rực rỡ trong suốt hơn 200 năm. Bắc Ninh là nơi sinh ra nhiều nhân tài trong lịch sử đất nước như tám vị vua nhà Lý; thời Lê triều đình có 6 vị thượng thư thì 5 người quê ở Bắc Ninh; Ngô Gia Tự, một chiến sĩ cộng sản kiên cường... Bắc Ninh còn là vùng đất tổ của những làn điệu dân ca Quan họ đặc sắc, tiêu biểu cho loại hình dân ca trữ tình Bắc Bộ, mang đậm bản sắc vùng miền. Quan họ Bắc Ninh ngày nay đã trở thành di sản văn hoá quý của Việt Nam.
Quan họ Bắc Ninh
Bắc Ninh còn là quê hương của chùa tháp, lễ hội và các sinh hoạt văn hoá cổ truyền. Mỗi lễ hội đều thể hiện những vẻ đẹp, tinh hoa văn hoá của địa phương và dân tộc là dịp ôn cố, tri ân những anh hùng.
Bắc Ninh ngày nay là một địa phương có nhiều ngành nghề thủ công nổi tiếng cả nước: gỗ Đồng Kỵ, tranh Đông Hồ, đồng Đại Bái... đó là các điều kiện cho du lịch phát triển. Trên vùng đất cổ thấm đẫm bề dày văn hoá, cứ mỗi độ xuân về, người Kinh Bắc lại rộn ràng vui trẩy hội.
Giao thông
Tỉnh có đường sắt Bắc Nam và quốc lộ 1A chạy xuyên qua. Từ thành phố Bắc Ninh theo quốc lộ 38 tới Cẩm Giàng (Hải Dương). Thành phố Bắc Ninh cách Hà Nội hơn 30km, Bắc Giang 20km, theo quốc lộ 1A.
Chùa bà Đanh gần hay xa
“Vắng như chùa Bà Đanh”-đó là câu nớ ví von đã đi vào thành ngữ,phương ngôn .Nhưng Bà Đanh nào? Bởi vì nước ta có tới hai chùa mà ngày nay chỉ còn chút dấu tích nằm ngay sát Hồ Tây, trong làng Thụy Khuê xưa mà ngày nay chỉ còn chút dấu tích nằm ngay sát Hồ Tây ngược lên chợ Bưởi.Còn một chùa nữa cũng có tên là chùa Bà Đanh nằm sát kề núi Ngọc,thuộc huyệ Kim Bảng, tỉnh Hà Nam.
Đã có lần tôi đi với ông trưởng phòng văn hóa huyện Kim Bảng.�"ng nói,chùa này khuất nẻo,lại gần núi,ít người qua lại.Không biết có phải vì thế mà nó vắng vẻ chăng?Còn chùa Bà Đanh ngay Hà Nội,hẳn nhiều người đã tỏ tường.Trong bài này tôi muốn nói tới chùa Bà Đanh núi Ngọc,xa hơn một chút, cách thủ đô Hà Nội chừng 50 cây số.Đó là ngôi chùa thực sự cổ kính.Theo huyền tích để lại thì ngôi chùa hoang sơ này có từ thời”Nhị bách nguyên niên”, nghĩa là từ thế kỷ thứ hai sau công nguyên.Chùa Bà Đanh này đã được Bộ Văn Hóa-Thông tin cấp bằng công nhận là di tích lịch sử -văn hóa.
Khác với nhiều chùa khác,chùa Bà Đanh vừa thờ thần vừa thờ Phật.”Tiền thần, hậu Phật”.Điều đó cũng gợi cho ta về lịch sử ra đời của chùa.Chùa Bà Đanh núi Ngọc vốn là một ngôi đền nhỏ giữa khu rừng hoang vu để dân chúng thờ thần Tứ Pháp.Trong thế giới tâm linh người Việt xưa,thờ thần tứ pháp là thờ thần Pháp Vân,Pháp Vũ ,Pháp Phong,Pháp Lôi,nghĩa là những đấng siêu nhiên gắn liền với cuộc sống nông nghiệp đồng áng của con người.Thần thì xa vô cùng,xa tít tận trời cao,mà gần thì cũng vô cùng gần gũi,bởi là gío , mưa gắn liền với cuộc sống mùa màng của người cày ruộng.
Theo huyền thoại dân gian truyền miệng trong vùng thì xa xưa tại đây có nàng Mãn Nương vốn tu hành tại chùa bà Linh Quang.Một hôm tiểu nữ Mãn Nương mệt ,nằm thiếp nơi bậu cửa.Khi tỉnh dậy nàng thấy trong người khang khác.Thì ra nàng đã có mang.Nàng về nương náu thân phụ sau 14 tháng nàng sinh hạ.Nhưng thay vì đẻ ra một hài nhi thì nàng lại đẻ ra một khối đá.Nhưng đó là khối đá rất đặc biệt,trong đêm nó phát ra ánh hào quang bảy sắc lung linh.Một ngày kia sư phụ Khâu Đà La mang khối đá đến bên gốc cây đa khấn trời đất.Nhưng chưa kịp khấn lạy xong thì ít lâu sau trời làm mưa làm giớ nghiêng đổ trời đất,nước dâng lên như nạn hồng thủy,không một sức mạnh nào ngăn nổi.Cơn lũ cuốn trôi nhà,bạt núi.Giữa lúc như vô phương thì Mãn Nương xuất hiện.Nàng bước xuống nước.Gió bỗng lặng.Cây cổi trôi dạt vào hai bờ.Nước lũ như có phép thần hạ xuống và biến mất như chưa hề gây tai họa.
Khi bão đã yên,trời quang mây tạnh, trước sân chùa bỗng hiện rõ một thiên thần cùng bốn vị đứng ở bốn góc như tứ thạch trụ và tự xưng là Tứ Pháp.Các vị tự xưng là tứ pháp.Các vị truyền cho dân chúng xẻ cây gỗ lấy thần,lấy trong thân cây tám chữ sơn son thếp vàng trang trọng treo lên.Từ thân cây gỗ,những người thợ tài hoa được lệnh ngày đêm tạc ngay bốn pho tượng Phật linh thiêng.Từ đó Tứ Pháp và bốn tượng Phật được thờ trong chùa thiêng.Khi sư phụ Khâu Đà La về cõi ,truyền lại cho Mãn Nương sách thần phèp để khi có thể hô mưa gọi nắng giúp dân.Đức bà y lời sư phụ,cầu mưa thuận gió hòa,dân tình no đủ.Hàng năm nhằm ngay 16 tháng 4 âm lịch dân chúng trong vùng mở ngày lế hội tạ đất trời.Đức Bà và bốn vị thần với lòng biết ơn,thành kính.
Truyên thuyết dân gian là vậy.Còn được sử sách thì chép vắn tắt: Chùa được xây dựng vào niên đại nào thì còn nhiều giả thuyết . Nhưng trước đời Lê Hy Tông(1675-1705), ngôi đền nơi thâm u này còn rất đơn sơ,tranh tre lá để thờ Tứ Pháp.Khi yên vị trên ngai vàng, vua Lê Hy Tông mới cho xây dựng lại khang trang, vững chắc kết hợp đền với chùa để tiện thờ thần với Phật. Từ đó ngôi đền này mới chính thức được gọi là chùa và có sư trụ trì đầu tiên trụ trì tại chùa này .Đến năm 1801, dưới triều Tây Sơn,nhà vua cho trùng tu,mở rộng chùa,đúc chuông,thu hút nhiều thập tử tăng ni thập phương.Có lẽ tên chùa là Bà Đanh nên chỉ có sư nữ đến đây chịu lễ,tu hành và nhiều vị trong số đó đã đắc đạo tại ngôi chùa vắng vẻ, hoang sơ này.
Nằm ở phía tây bắc của Tổ quốc, Sa Pa là một huyện vùng cao của tỉnh Lào Cai, một vùng đất khiêm nhường, lặng lẽ nhưng ẩn chứa bao điều kỳ diệu của cảnh sắc thiên nhiên. Phong cảnh thiên nhiên của Sa Pa được kết hợp với sức sáng tạo của con người cùng với địa hình của núi đồi, màu xanh của rừng, như bức tranh có sự sắp xếp theo một bố cục hài hoà tạo nên một vùng có nhiều cảnh sắc thơ mộng hấp dẫn.
Chìm trong làn mây bồng bềnh thị trấn Sa Pa như một thành phố trong sương huyền ảo, vẽ lên một bức tranh sơn thủy hữu tình. Nơi đây, có thứ tài nguyên vô giá đó là khí hậu trong lành mát mẻ, mang nhiều sắc thái đa dạng. Nằm ở độ cao trung bình 1500m – 1800m, nên khí hậu Sa Pa ít nhiều lại mang sắc thái của xứ ôn đới, với nhiệt độ trung bình 15-18°C. Từ tháng 5 đến tháng 8 có mưa nhiều.
Sa Pa tên gọi này từ tiếng quan thoại. Tiếng quan thoại gọi Sa - Pả, “Sa” là cát, “Pả” là bãi. Địa danh của “bãi cát” này ở bên phải cầu km 32 từ Lào Cai vào Sa Pa. Ngày xưa chưa có thị trấn Sa Pa, cư dân ở vùng đất này đều họp chợ ở “bãi cát” đó. Do vậy, dân địa phương ai cũng nói là “đi chợ Sa Pả”.
Từ hai chữ “Sa Pả”, người Phương Tây phát âm không có dấu, nên thành Sa Pa và họ đã viết bằng chữ Pháp hai chữ đó là “Cha Pa” và một thời gian rất lâu người ta đều gọi “Cha Pa” theo nghĩa của từ tiếng Việt.
Còn thị trấn Sa Pa ngày nay, trước có một mạch nước đùn lên đục đỏ, nên dân địa phương gọi là “Hùng Hồ”, “Hùng” là đỏ, “Hồ” là hà, là suối, suối đỏ.
Sa Pa có đỉnh Phan Si Păng cao 3.143m trên dãy Hoàng Liên Sơn. Gọi Hoàng Liên Sơn, bởi duy nhất trên dãy núi này có cây Hoàng Liên, một loại dược liệu quý, hiếm. Ngoài ra dãy Hoàng Liên còn là “mỏ” của loài gỗ quý như thông dầu, của bao chim thú, như gà gô, gấu, khỉ, sơn dương và của hàng ngàn loại thuốc. Khu rừng quốc gia Hoàng Liên Sơn có 136 loài chim, có 56 loài thú, 553 loài côn trùng. Có 37 loài thú được ghi trong “sách đỏ Việt Nam. Rừng Hoàng Liên Sơn có 864 loài thực vật, trong đó có 173 loài cây thuốc.
Núi Hàm Rồng
Sa Pa có núi Hàm Rồng ở sát ngay thị trấn, bất kỳ du khách nào cũng có thể lên đó để ngắm toàn cảnh thị trấn, thung lũng Mường Hoa, Sa Pả, Tả Phìn ẩn hiện trong sương khói. Hiện nay, với bàn tay tôn tạo của con người, Hàm Rồng thực sự là một thắng cảnh đầy hoa trái của Sa Pa. Và, nếu ai đã đến Thạch Lâm (Vân Nam, Trung Quốc) thì Hàm Rồng cũng có thể giúp các bạn tưởng tượng là Thạch Lâm được. Lên Hàm Rồng, du khách như lạc vào vườn tiên, mây ùa kín thân người, hoa rực rỡ mặt đất.
Sa Pa còn có nhà thờ cổ ở ngay thị trấn và từ thị trấn đi ngược về hướng đông bắc trên đường đi tới động Tả Phìn có một tu viện được xây gần toàn như bằng đá tại một sườn đồi quang đãng, thoáng mát. Qua tu viện đi bộ ba cây số theo hướng bắc ta đến hang động Tả Phìn với độ rộng có thể đủ chứa một số lượng người cỡ trung đoàn của quân đội. Trong hang nhiều nhũ đá tạo nên những hình thù kỳ thú như hình tiên múa, đoàn tiên ngồi, cánh đồng xa, rừng cây lấp lánh.
Đặc biệt tại thung lũng Mường Hoa có 196 hòn chạm khắc nhiều hình kỳ lạ của những cư dân cổ xưa cách đây hàng ngàn vạn năm mà nhiều nhà khảo cổ học vẫn chưa giải mã được. Khu chạm khắc cổ đã được xếp hạng di tích quốc gia .
Từ thị trấn Sa Pa, đi về phía tây khoảng 12km trên đường đi Lai Châu, ta sẽ gặp Thác Bạc với những dòng nước đổ ào ào từ độ cao trên 200m tạo thành âm thanh núi rừng đầy ấn tượng.
Sa Pa là “vương quốc” của hoa trái, như đào hoa, đào vàng to, đào vàng nhỏ, mận hậu, mận tím, mận tam hoa, hoa lay dơn, hoa mận, hoa lê, hoa đào, hoa cúc, hoa hồng…đặc biệt là hoa bất tử sống mãi với thời gian.
Sa Pa với 6 tộc người cũng cư trú, mỗi tộc người có một vốn văn hoá riêng với các lễ hội như lễ hội “Roóng pọc” của người Giáy Tả Van, lễ hội “Sải Sán” (đạp núi) của người Mông, lễ “Tết nhảy” của người Dao Đỏ, tất cả đều diễn ra vào tháng tết hàng năm.
Chợ Sa Pa
Chợ phiên của Sa Pa họp vào ngày chủ nhật tại huyện lỵ (thị trấn Sa Pa). Người dân ở vùng xa phải đi từ ngày thứ bẩy. Vào tối thứ bảy mọi người cùng thức vui với nhau bằng những bài hát dân ca của trai gái người Mông, người Dao, bằng những âm thanh của đàn môi, của sáo, của khèn Mông, bằng những bát rượu tràn đầy của những người có tuổi…và người ta đã đặt cho nó là “chợ tình
Tổng quan về Hạ Long
Sự tích vịnh Hạ Long kể rằng: Ngày xưa, khi người Việt mới lập nước đã bị giặc ngoại xâm, Ngọc Hoàng sai Rồng Mẹ mang theo một đàn Rồng Con xuống hạ giới giúp người Việt đánh giặc. Thuyền giặc từ ngoài biển ào ạt tiến vào bờ, vừa lúc đàn Rồng tới hạ giới. Đàn Rồng lập tức phun ra vô số châu ngọc và thoắt biến thành muôn ngàn đảo đá trên biển, như bức tường thành vững chắc, bất ngờ chặn bước tiến của thuyền giặc. Đoàn thuyền của giặc đang lao nhanh, bị chặn đột ngột đâm vào các đảo đá và đâm vào nhau vỡ tan tành.
Sau khi giặc tan, Rồng Mẹ và Rồng Con không trở về trời mà ở lại hạ giới, nơi vừa diễn ra trận chiến. Vị trí Rồng Mẹ xuống là Hạ Long, Rồng Con xuống là Bái Tử Long. Đuôi đàn Rồng quẫy nước trắng xoá là Long Vĩ (bán đảo Trà Cổ ngày nay) thành bãi cát mịn và dài hơn chục ki lô mét.
Vịnh Hạ Long nằm ở vùng Đông Bắc Việt Nam, là một phần bờ tây vịnh Bắc Bộ, bao gồm vùng biển của thành phố Hạ Long, thị xã Cẩm Phả và một phần của huyện đảo Vân Đồn. Phía tây nam vịnh giáp đảo Cát Bà, phía tây giáp đất liền với đường bờ biển dài 120 km, được giới hạn trong các tọa độ từ 1060 58’ - 1070 22’ kinh độ Đông và 200 45’ - 200 50’ vĩ độ bắc, với tổng diện tích 1553 km2 gồm 1969 hòn đảo lớn nhỏ, trong đó 989 đảo có tên và 980 đảo chưa có tên.
Đảo ở Hạ Long có hai dạng là đảo đá vôi và đảo phiến thạch, tập trung ở hai vùng chính là vùng phía đông nam vịnh Bái Tử Long và vùng phía tây nam vịnh Hạ Long. Đây là hình ảnh cổ xưa nhất của địa hình có tuổi kiến tạo địa chất từ 250 - 280 triệu năm, là kết quả của quá trình vận động nâng lên, hạ xuống nhiều lần từ lục địa thành trũng biển. Quá trình Caxto bào mòn, phong hoá gần như hoàn toàn tạo ra một Hạ Long độc nhất vô nhị trên thế giới. Trong một diện tích không lớn, hàng ngàn đảo đá với muôn hình, dáng vẻ khác nhau như những viên ngọc bích long lanh được đính lên chiếc khăn voan xanh biếc của nàng thiếu nữ. Vùng tập trung dày đặc các đảo đá có phong cảnh ngoạn mục và nhiều hang động đẹp nổi tiếng là vùng trung tâm Di sản Thiên nhiên vịnh Hạ Long, bao gồm vịnh Hạ Long và một phần vịnh Bái Tử Long.
Vùng Di sản được Thế giới công nhận có diện tích 434 km2 bao gồm 775 đảo, như một hình tam giác với ba đỉnh là đảo Đầu Gỗ (phía tây), hồ Ba Hầm (phía nam) và đảo Cống Tây (phía đông). Vùng kế bên là khu vực đệm và di tích danh thắng quốc gia được bộ Văn hoá Thông tin xếp hạng năm 1962.
Từ trên cao nhìn xuống, vịnh Hạ Long như một bức tranh thuỷ mặc khổng lồ vô cùng sống động. Đó là những tác phẩm tạo hình tuyệt mỹ, tài hoa của tạo hoá, của thiên nhiên biến hàng ngàn đảo đá vô tri tĩnh lặng kia trở nên những tác phẩm điêu khắc, hội họa hoàn mỹ với muôn hình dáng vẻ yêu kiều, vừa rất quen thuộc vừa như xa lạ với con người. Hàng ngàn đảo đá nhấp nhô trên sóng nước lung linh huyền ảo, vừa khoẻ khoắn hoành tráng nhưng cũng rất mềm mại duyên dáng, sống động. Đi giữa Hạ Long với muôn ngàn đảo đá, ta ngỡ như lạc vào một thế giới cổ tích bị hoá đá nơi đây. Đảo thì giống hình ai đó đang hướng về đất liền - hòn Đầu Người; đảo thì giống như một con rồng đang bay lượn trên mặt nước - Hòn Rồng; đảo thì lại giống như một ông lão đang ngồi câu cá - hòn Lã Vọng; và kia hai cánh buồm nâu lực lưỡng đang rẽ sóng nước ra khơi - hòn Cánh Buồm; rồi hai con gà đang âu yếm vờn nhau trên sóng nước - hòn Trống Mái; đứng giữa biển nước bao la một lư hương khổng lồ như một vật cúng tế trời đất - hòn Lư Hương... Tất cả đều rất thực, thực đến kinh ngạc. Những đảo đá diệu kỳ ấy biến hoá khôn lường theo thời gian và góc nhìn. Tới đây ta mới nhận ra tất cả chúng không phải là những hòn đảo vô tri tĩnh lặng mà như có hồn và đều sống động.
Tiềm ẩn trong lòng các đảo đá ấy là những hang động tuyệt đẹp như động Thiên Cung, hang Đầu Gỗ, động Sửng Sốt, hang Trinh Nữ, động Tam Cung... Đó thực sự là những lâu đài của tạo hoá giữa chốn trần gian. Từ xưa, Hạ Long đã được đại thi hào dân tộc Nguyễn Trãi mệnh danh là “kỳ quan đất dựng giữa trời cao”. Bao tao nhân mặc khách từ khắp năm châu khi đặt chân đến đây đều cảm thấy bàng hoàng trước vẻ đẹp kỳ vĩ của Hạ Long, dường như họ đều cảm thấy lúng túng và bất lực bởi vốn từ hiện có vẫn chưa đủ để mô tả vẻ đẹp của Hạ Long.
Vịnh Hạ Long cũng là nơi gắn liền với những trang sử vẻ vang, hào hùng của dân tộc Việt Nam với những địa danh nổi tiếng như Vân Đồn - nơi có thương cảng cổ sầm uất vào thế kỷ thứ 12; có núi Bài Thơ lịch sử; cách đó không xa dòng sông Bạch Đằng - là chứng tích của hai trận thuỷ chiến lẫy lừng của các thế hệ ông cha chống giặc ngoại xâm. Không chỉ có vậy, Hạ Long còn là một trong những cái nôi của con người với nền Văn hoá Hạ Long huy hoàng thời Hậu kỳ đồ đá mới tại những địa danh khảo cổ học nổi tiếng như Đồng Mang, Xích Thổ, Soi Nhụ, Thoi Giếng...
Hạ Long cũng là nơi tập trung đa dạng sinh học cao với những hệ sinh thái điển hình như hệ sinh thái rừng ngập mặn, hệ sinh thái rạn san hô, hệ sinh thái tùng áng, hệ sinh thái rừng cây nhiệt đới... Với hàng ngàn loài động thực vật vô cùng phong phú, đa dạng như tôm, cá, mực... Có những loài đặc biệt quý hiếm chỉ có ở nơi đây.
Với những giá trị đặc biệt như vậy, ngày 17/12/1994, trong phiên họp lần thứ 18 của Hội đồng Di sản Thế giới thuộc UNESCO tổ chức tại Thái Lan, vịnh Hạ Long chính thức được công nhận là Di sản Thiên nhiên thế giới. Năm 2000, vịnh Hạ Long được UNESCO công nhận lần thứ hai Di Sản thế giới bởi giá trị địa chất, địa mạo. Điều đó đã khẳng định giá trị ngoại hạng mang tính toàn cầu của vịnh Hạ Long.
Dẫu bạn ở đâu trên thế gian này, là người da trắng hay da màu, không kể quốc tịch, ngôn ngữ, tuổi tác... khi đặt chân đến đây cũng đều có chung những cảm xúc, sự rung động của con tim trước một kỳ quan của đá và nước, và khi phải chia tay Hạ Long chắc sẽ để lại những ấn tượng khó quên... Câu chuyện huyền thoại xa xưa về đàn rồng mẹ và đàn rồng con đã phun châu nhả ngọc tạo nên hàng ngàn đảo đá ngăn bước quân thù, hôm nay vẫn đứng đó tạo nên một di sản vô giá cho nhân loại.
Bạn đã có dịp đến với Hạ Long - Di sản có một không hai trên thế giới để được chiêm ngưỡng và khám phá những bí mật còn ẩn chứa nơi này?
Diện tích: 921 km²
Dân số: 3.082.800 người (năm 2004)
Các quận/huyện:
- Quận: Hoàn Kiếm, Ba Ðình, Ðống Ða, Hai Bà Trưng, Tây Hồ, Thanh Xuân, Cầu Giấy, Long Biên, Hoàng Mai.
- Huyện: Ðông Anh, Sóc Sơn, Thanh Trì, Từ Liêm, Gia Lâm.
Dân tộc: Việt (Kinh), Hoa...
Hà Nội là thủ đô của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.
Điều kiện tự nhiên: Hà Nội nằm ở trung tâm đồng bằng Bắc Bộ, ở vị trí trong khoảng từ 20º25' đến 21º23' vĩ độ Bắc, 105º15' đến 106º03’ kinh độ Đông, tiếp giáp với các tỉnh: Thái Nguyên ở phía bắc, Bắc Giang, Bắc Ninh và Hưng Yên ở phía đông và đông nam, Hà Tây và Vĩnh Phúc ở phía tây. Hà Nội có khoảng cách dài nhất từ phía bắc xuống phía nam là trên 50km và chỗ rộng nhất từ tây sang đông 30km. Ðiểm cao nhất là núi Chân Chim: 462m (huyện Sóc Sơn); nơi thấp nhất thuộc phường Gia Thụy (quận Long Biên) 12m so với mặt nước biển. Hà Nội nằm hai bên bờ sông Hồng, giữa vùng đồng bằng Bắc Bộ trù phú và nổi tiếng từ lâu đời, Hà Nội có vị trí và địa thế đẹp, thuận lợi để là một trung tâm chính trị, kinh tế, vǎn hoá, khoa học và đầu mối giao thông quan trọng của cả nước.
-Khí hậu : Khí hậu Hà Nội khá tiêu biểu cho kiểu khí hậu Bắc Bộ với đặc điểm là khí hậu nhiệt đới gió mùa ấm, mùa hè nóng, mưa nhiều và mùa đông lạnh, mưa ít. Nằm trong vùng nhiệt đới, Hà Nội quanh nǎm tiếp nhận được lượng bức xạ mặt trời rất dồi dào và có nhiệt độ cao. Lượng bức xạ tổng cộng trung bình hàng nǎm ở Hà Nội là 122,8 kcal/cm2 và nhiệt độ không khí trung bình hàng nǎm là 23,6ºC. Do chịu ảnh hưởng của biển, Hà Nội có độ ẩm và lượng mưa khá lớn. Ðộ ẩm tương đối trung bình hàng nǎm là 79%. Lượng mưa trung bình hàng nǎm là 1.800mm và mỗi nǎm có khoảng 114 ngày mưa. Ðặc điểm khí hậu Hà Nội rõ nét nhất là sự thay đổi và khác biệt của hai mùa nóng, lạnh. Từ tháng 5 đến tháng 9 là mùa nóng và mưa. Nhiệt độ trung bình mùa này là 29,2ºC. Từ tháng 11 đến tháng 3 nǎm sau là mùa đông thời tiết khô ráo. Nhiệt độ trung bình mùa đông 15,2ºC. Giữa hai mùa đó lại có hai thời kỳ chuyển tiếp (tháng 4 và tháng 10) cho nên có thể nói rằng Hà Nội có đủ bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Ðông. Bốn mùa thay đổi như vậy đã làm cho khí hậu Hà Nội thêm phong phú, đa dạng, mùa nào cũng đẹp, cũng hay. Mùa tham quan tốt nhất ở Hà Nội là mùa thu, rất thích hợp với du khách ở những vùng hàn đới.
|
-Địa hình: Hà Nội bao gồm hai loại địa hình đồng bằng và trung du Bắc Bộ. Phần đồng bằng theo hai bờ sông Hồng và chi lưu (sông Ðuống, sông Ðáy...) là chủ yếu. Phần trung du gồm huyện Sóc Sơn và một phần huyện Ðông Anh, kéo dài về phía đồng bằng của núi Tam Ðảo, có độ cao từ 7-10m đến vài trăm mét so với mực nước biển. Vì vậy địa hình Hà Nội có độ nghiêng theo hướng Bắc Nam (từ Sóc Sơn - Ðông Anh về Thanh Trì).
Hà Nội có dãy Sóc Sơn (núi Sóc) là đợt kéo dài của khối Tam Ðảo, với ngọn cao nhất là 308m. Núi này có các tên gọi khác nhau như núi Mã, núi Ðền (vì đỉnh núi có đền Sóc, tương truyền là nơi Thánh Gióng thăng hoá cùng với ngựa sắt về trời), núi Vệ Linh. Núi Sóc tọa lạc tại xã Phù Linh, huyện Sóc Sơn. Ngoài núi Sóc, Hà Nội còn có một số đồi núi khác đột khởi lên giữa đất bằng như núi Sái (xã Thuỵ Lâm, huyện Ðông Anh), núi Phục Tương (xã Cổ Bi, huyện Gia Lâm), và ở trung tâm Hà Nội, thuộc vùng Bách thảo có núi Nùng, còn gọi là Long Ðỗ hay núi Khán, tạo nên dáng vẻ cho thế đất Thăng Long xưa.
Sông ngòi: Hà Nội nằm ở trung tâm của tam giác chảy sông Hồng. Sông Hồng dài 1.183km từ Vân Nam (Trung Quốc) xuống. Ðoạn sông Hồng qua Hà Nội dài 40km từ huyện Ðông Anh đến hết huyện Thanh Trì. Sông Ðuống là con sông lớn thứ hai của Hà Nội, tách ra khỏi sông Hồng từ ngã ba Xuân Canh (xã Xuân Canh, Ðông Anh) rồi qua phường Ngọc Thuỵ, xã Yên Thường, cắt quốc lộ 1A ở Cầu Ðuống, qua đất Gia Lâm 17km rồi sang đất Bắc Ninh đổ vào sông Thái Bình. Ngoài hai con sông lớn đó, đất Hà Nội có nhiều dòng chảy khác, tuy nhỏ và ngắn song gắn chặt với lịch sử lâu đời của Hà Nội. Ðó là sông Tô Lịch, gắn với sự hình thành của Hà Nội từ hơn 1.500 năm trước. Dòng chảy cũ liền với sông Hồng ở đầu phố chợ Gạo đã bị lấp từ đầu thế kỷ 20, nay chỉ còn đoạn chảy giữa phố Thuỵ Khuê-Hoàng Hoa Thám, lên đến chợ Bưởi, rồi chảy ngoặt về phía nam Cầu Giấy, Ngã Tư Sở, xuôi về Cầu Bươu, hợp với sông Nhuệ, sông Thiên Ðức, sông Nghĩa Trụ, sông Cheo Reo, Ngũ Huyện Giang, sông Kim Ngưu...
Ðầm hồ ở Hà Nội cũng nhiều, lớn như Hồ Tây, nhỏ như hồ Hoàn Kiếm, hồ Thủ Lệ, hồ Bảy Mẫu, hồ Kim Liên, hồ Liên Ðàm, đầm Vân Trì...
Dân cư: Ở các huyện ngoại thành và một phần quận Tây Hồ, dân cư chủ yếu là người dân gốc. Còn ở các quận cũ của nội thành, dân cư hầu hết đều tập hợp từ các tỉnh, thành khắp đất nước về sinh sống và làm việc trong các cơ quan Trung ương. Cư dân Hà Nội chủ yếu là người Việt, song cũng có một số dân tộc ít người khác.
Chợ Hoa: Chính những lợi thế về dư địa chí đã tạo cho Hà Nội một khả năng giao lưu trong nước và quốc tế thuận lợi. Chính những bàn tay, khối óc cần cù, sáng tạo của cư dân Hà Nội xưa và nay đã tạo cho Hà Nội một vị trí xứng đáng là trung tâm chính trị, kinh tế văn hóa và du lịch, là thủ đô của nước Việt Nam, một trong những thủ đô hấp dẫn trên thế giới.
Giao thông Từ thủ đô Hà Nội, có thể đi khắp mọi miền đất nước bằng một hệ thống giao thông thuận tiện.
Đường không: có sân bay quốc tế Nội Bài (thuộc huyện Sóc Sơn, cách trung tâm thành phố chừng 35km). Cùng với Nội Bài còn có sân bay Gia Lâm (cách Hà Nội chừng 8km), vốn là sân bay chính của Hà Nội từ trước những năm 70 thế kỷ 20. Bây giờ nơi đây là ga sân bay trực thăng sẵn sàng phục vụ cho du khách những tour du lịch tới các điểm tham quan hấp dẫn.
Giao thông Đường bộ: Xe ô tô khách liên tỉnh xuất phát từ các bến xe phía Nam, Kim Mã, Gia Lâm toả đi khắp mọi miền trên toàn quốc theo các quốc lộ 1A xuyên Bắc - Nam; quốc lộ 2 đi Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Hà Giang, Tuyên Quang; quốc lộ 3 đi Thái Nguyên, Cao Bằng; quốc lộ 5 đi Hải Phòng, Quảng Ninh; quốc lộ 6 đi Hoà Bình, Sơn La, Lai Châu...
Đường sắt: Hà Nội cũng là đầu mối giao thông đường sắt trong nước và có đường sắt liên vận sang Bắc Kinh (Trung Quốc) rồi đi Châu Âu...
Đường thuỷ: Hà Nội cũng là đầu mối giao thông quan trọng với bến Phà Đen đi Hưng Yên, Nam Định, Thái Bình, Việt Trì : có bến Hàm Tử Quan đi Phả Lại.
Không phải Hà Nội vào cuối thế kỷ 20 mới có được bấy nhiêu điều kiện thuận lợi mà từ lâu, từ ngày vua Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) về Ðại La để lập kinh đô Thăng Long vào tháng bảy năm Canh Tuất (1010), trong "Chiếu dời đô", vị vua khai sáng triều Lý (1010-1225) đồng thời khai sáng cho Thăng Long-Hà Nội đã chỉ ra
Hoà Bình là một tỉnh miền núi, cách Hà Nội trên 70km về phía tây nam theo quốc lộ 6. Phía bắc Hoà Bình giáp Phú Thọ và Hà Tây, phía nam giáp Ninh Bình và Thanh Hoá, phía đông giáp Hà Tây và Hà Nam, phía tây giáp Sơn La.
Địa hình Hoà Bình chủ yếu là núi rừng, xen kẽ giữa các sườn núi là các thung lũng hẹp. Khí hậu nóng ẩm, mưa theo mùa. Nhiệt độ trung bình năm khoảng 22,9ºC - 25ºC.
Tiềm năng phát triển kinh tế và du lịch
Sức hấp dẫn du khách của Hoà Bình, một vùng đất đa dân tộc, là giá trị nhân văn đa dạng, phong phú của cộng đồng cư dân.
Du khách sẽ được thưởng thức món ăn dân tộc, đặc sản cơm lam, thịt nướng rượu cần và xem các tiết mục cồng, chiêng, trống đồng, hát ví Mường, hát Khắp Thái, hòa nhập vào đêm Hội xòe, ngủ nhà sàn dân tộc, mua hàng dệt thổ cẩm và các lâm thổ sản quý... tại những bản Thái cổ, bản láp của đồng bào Dao...
Bản Lác
Ðịa hình đồi núi trùng điệp với các động Thác Bờ, hang Rết, động Hoa Tiên, vùng rừng nhiệt đới nguyên sinh Pù Noọc mở ra những tuyến du lịch mạo hiểm leo núi, đi bộ, săn bắn, tắm suối. Sức người và thiên nhiên đã tạo cho Hòa Bình một vùng hồ sông Ðà thơ mộng cho phép phát triển du lịch vùng lòng hồ và ven hồ có đầy đủ vịnh, đảo và bán đảo mà ở đó động thực vật quý hiếm được bảo tồn. Thấp thoáng các bản Mường, bản Dao, bản Tày rải rác ven hồ, ven thung lũng tạo nên bức tranh sơn thủy hữu tình. Nói đến tài nguyên thiên nhiên của Hoà Bình không thể quên nhắc đến những bãi tắm đẹp bên hồ sông Ðà và suối nước khoáng Kim Bôi đích thực là chén thuốc vàng phục hồi sức khoẻ cho du khách.
Giao thông
Giao thông đường bộ, đường thuỷ đều thuận tiện. Có quốc lộ 6 từ Hà Nội qua Hà Tây, đến Hòa Binh, đi Sơn La ; quốc lộ 12B đi Nho Quan (Ninh Bình) ; từ Mai Châu theo quốc lộ 15 đi Thanh Hóa
Hưng Yên là tỉnh nằm ở trung tâm đồng bằng Bắc bộ, phía bắc giáp Bắc Ninh, phía đông giáp Hải Dương, phía đông nam giáp Thái Bình, phía tây và tây bắc giáp Hà Tây và Hà Nội, phía nam và tây nam giáp Hà Nam.
Địa hình của tỉnh tương đối bằng phẳng. Khí hậu nhiệt đới gió mùa, chia làm hai mùa, mùa nóng và mùa lạnh. Nhiệt độ trung bình năm khoảng 23ºC.
Tiềm năng phát triển kinh tế và du lịch
Hưng Yên có di tích Phố Hiến, là một thương cảng sầm uất từ thế kỷ 17. Nhiều di tích lịch sử, văn hoá độc đáo như chùa Kim Chung, đình Nam Hiến... đặc biệt có nhãn lồng là loại cây đặc sản nổi tiếng, từng được là loại quả quý để tiến vua.
Giao thông
Thị xã Hưng Yên cách Hà Nội 60km. Giao thông đường bộ, đường thuỷ, đường sắt đều thuận lợi. Hưng Yên nằm trên trục đường sắt và quốc lộ 5: Hà Nội – Hưng Yên – Hải Dương – Hải Phòng. Có quốc lộ 39 nối từ quốc lộ 5 tại huyện Mỹ Hào tới Tx. Hưng Yên và tới Thái Bình. Có quốc lộ 38 qua Hải Dương và tới Bắc Ninh.
Hải Dương là một tỉnh nằm ở trung tâm châu thổ sông Hồng, phía bắc và tây bắc giáp Bắc Ninh và Bắc Giang, phía đông giáp Hải Phòng, Quảng Ninh, phía tây giáp Hưng Yên, phía nam giáp Thái Bình. Tỉnh có địa hình tương đối bằng phẳng, có hệ thống sông phong phú như sông Thái Bình, sông Rang, sông Kinh Thầy, sông Đào... tạo thuận lợi cho giao thông đường thủy. Nhiệt độ trung bình năm khoảng 23,4ºC.
Tiềm năng phát triển kinh tế và du lịch
Hải Dương là một tỉnh có tiềm năng du lịch dồi dào. Hải Dương, một miền đất trù phú có phong cảnh thiên nhiên hữu tình, có di tích thắng cảnh Côn Sơn - Kiếp Bạc được nhiều người biết đến. Nhiều di tích lịch sử đã được nhà nước công nhận và xếp hạng.
Hải Dương là một trong những cái nôi của nền văn hoá lâu đời của dân tộc Việt Nam. Lịch sử hàng ngàn năm của dân tộc đã để lại cho vùng đất này một tài sản vô giá với hàng trăm di tích lịch sử văn hoá. Vùng đất này gắn bó với tên tuổi và sự nghiệp của nhiều danh nhân như Trần Nguyên Đán, Nguyễn Trãi, Mạc Đĩnh Chi, Phạm Sư Mạnh, nơi sinh ra và lớn lên của đại danh y Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác.
Hải Dương là mảnh đất đã tạo nên những làng nghề truyền thống với những sản phẩm tinh xảo đã từng nổi tiếng từ nhiều thế kỷ. Hải Dương cũng chính là nơi có nền văn hoá dân gian đặc sắc của vùng đồng bằng châu thổ Sông Hồng với các loại hình nghệ thuật: ca trù, hát chèo.
Giao thông
Giao thông đường bộ, đường sông, đường sắt đều thuận lợi. Tỉnh nằm trên trục đường sắt và đường quốc lộ 5: Hà Nội - Hải Dương - Hải Phòng, trục đường quốc lộ 18: Bắc Ninh - Hải Dương - Quảng Ninh. Thành phố Hải Dương cách Hà Nội 58km.
Thành phố biển Hải Phòng, một trong những trung tâm du lịch lớn của Việt Nam, nằm bên bờ biển Đông - Thái Bình Dương; phía bắc giáp tỉnh Quảng Ninh, phía đông giáp biển Đông, phía tây giáp tỉnh Hải Dương, phía nam giáp tỉnh Thái Bình.
Hải Phòng nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình 23ºC - 24ºC, lượng mưa hàng năm 1.600 – 1.800mm, quanh năm thời tiết ấm áp, bốn mùa cây trái xanh tươi.
Tiềm năng phát triển du lịch
Với di chỉ khảo cổ Cái Bèo (Cát Bà) chứng tỏ mảnh đất này cách đây trên 6.000 năm đã có người sinh sống. Hiện nay, Hải Phòng còn giữ được nhiều di tích lịch sử, nhiều danh lam thắng cảnh, nhiều đền, chùa, lăng miếu và lễ hội Chọi trâu, một lễ hội độc đáo, nổi tiếng của Đồ Sơn.
Hải Phòng nằm trong tuyến du lịch Hà Nội - Hải Phòng - vịnh Hạ Long. Hải Phòng có khu nghỉ mát Đồ Sơn vươn ra biển tới 5km. Từ Đồ Sơn bằng tàu cao tốc, du khách có thể tới thăm đảo và vườn quốc gia Cát Bà, thăm vịnh Bái Tử Long và vịnh Hạ Long (Quảng Ninh).
Giao thông
Hải Phòng có một cảng biển lớn nằm trên đường hàng hải quốc tế Đông - Tây, Bắc - Nam. Là một đầu mối giao thông quan trọng với hệ thống giao thông thuỷ, bộ, đường sắt, hàng không trong nước và quốc tế.
- Đường bộ: Hải Phòng cách Hà Nội 102km theo quốc lộ 5. Hải Phòng nằm trong trục đường quốc lộ 10: Thái Bình -Hải Phòng- Quảng Ninh.
- Đường sắt : Hàng ngày đều có các chuyến tàu Hà Nội - Hải Phòng – Hà Nội.
- Đường thuỷ: Có tuyến tàu thuỷ Hải Phòng - Hạ Long – Cát Bà – Móng Cái.
- Hàng không: Hàng ngày có chuyến bay Tp. Hồ Chí Minh - Hải Phòng
Để chèo được kayak,giới hướng dẫn trước kia phải sang nước ngoài để tập huấn,còn hiện giờ,các công ty lữ hành đã thuê các chuyên gia về huấn luyện đội ngũ của mình.Trong các hình thức hướng dẫn có lẽ đi kayak là hình thức đòi hỏi kỹ năng nhiều và mức độ khó khăn ngang với cánh hướng dẫn mạo hiểm bằng xe máy và lặn biển…
Vẻ huy hoàng khó tin
Trong chuyến đi này,tôi là người ngồi trước,cứ việc hùng hục vung mái chèo quạt nước,còn người phía sau sẽ quyết định về hướng đi,tốc độ,điều chỉnh kayak…Tất nhiên đó là một người bạn thân thiết,người đã cùng tôi trải qua những chuyến đi dài trong những cánh rừng già, các bản làng và con đường heo hút suốt một dải Đông Bắc-Tây Bắc.Tay lăm lăm hải đồ in chi tiết từng bãi cát, từng mỏm đá của vịnh Hạ Long, Hùng không mấy khi nhàn nhã, cậu phải lo lắng từng góc bánh lái,dè chừng những con sóng hung hãn và né tránh các mỏm đá ngầm hầu như rất khó nhận thấy bằng mẳt thường.
Chúng tôi khởi hành qua một địa danh quen thuộc trên vùng biển Hạ Long,làng chài Cửa Vạn.Đó là một quần thể cư dân sống bập bềnh trên biển gần như quanh năm suốt tháng không đặt chân lên đất liền.Theo lời kể của cánh hướng dẫn, quá nửa dân cư trên làng nổi không biết chữ,còn rất nhiều trẻ em sinh ra không làm khai sinh.Đời nọ nối tiếp đời kia,và những con người gắn bó với cuộc sống lênh đênh ấy chỉ có một con thuyền-ngôi nhà, gia tài lớn nhất.Họ sống bằng đủ thứ nghề,từ chài lưới cho tới buôn bán các loại nhu yếu phẩm.Đôi khi,cánh hướng dẫn còn ghé vào làng nổi để hát karaoke với giá rất rẻ chỉ có 3000 đồng/giờ.Song chúng tôi không có thời gian để chơi lâu tại đây,bởi phía trước là biển mênh mông,và từ nơi khởi hành đến điểm hẹn còn một khoảng rất xa.Những chú chó trên làng nổi chõ mõm về phía kayak sủa tong tóc.Cũng thật tội,dường như chúng chưa được phóng thỏa sức trên mặt đất ,kể từ ngày ra đời.
Men theo một sườn núi nơi sóng vỗ khá êm, kayak lướt theo đà chèo tiến ra mặt biển rộng. Lần đầu đối mặt cùng biển khơi chỉ một mái chèo mỏng manh,trong thâm tâm tôi khá hoảng.Dẫu rằng theo lý thuyết,kayak là một loại thuyền thiết kế hoàn hảo,rất khó bị đánh chìm.Hơn nữa chúng tôi đều được trang bị áo phao ,song cảm giác khi nhìn những con sóng dập dờn phía trước mới thật khó tả.Hoàn toàn khác với chèo thuyền thong dong trong ánh chiều tà hồ Tây.Hoàn toàn khác với việc ngồi trên những con thuyền chắc chắn và vượt sóng trùng dương.Ở đây, con người đối mặt cùng cõi rộng lớn ,vô biên và đầy bí hiểm.Mỗi lần mái chèo quạt xuống, vung lên là hàng trăm ngàn giọt nước lấp lánh trong ánh nắng.Nước tung tóa lên người và mau chóng tứơi ướt quần áo.Chúng tôi dấn về phía trước,thay nhau chèo để vượt qua khoảng biển rộng.Tit mù xa,nơi đó là điểm hẹn của tàu lớn.Theo nguyên tắc,tàu lớn không bao giờ rời khỏi chỗ quy ước,dù muộn tới đâu.Người chèo Kayak phải tự chủ tìm đường về,căn cứ vào các thiết bị dẫn đường mang theo và kinh nghiệm bản thân.
Tôi không thể diễn tả chính xác cảm xúc của mình khi ngồi trên kayak và lướt trên muôn ngàn ánh sóng vang của hoàng hôn rỡn dưới đáy thuyền.Sung sướng và tự do tuyệt đối . Mệt rã rời và phóng khoáng không còn gì ràng buộc?Kayak là một môn chơi quý tộc,và trên thế giới đã phổ biến với các câu lạc bộ hàng chục ngàn hội viên.Tại Việt Nam,hầu như chưa từng có tiền lệ về việc khách nội địa mua tour chèo kayak, bởi khi tham gia vào môn thể thao này,ngoài sức khỏe bền bỉ, bạn sẽ cần một bộ thần kinh thép và là người có đôi chút máu liều.Không liều sao được khi sẵn sàng dấn thân vào một thế giới trùng dương đầy sóng dữ,những dòng nước xoáy không xác đinh những hang xuyên, hang luồn tối mịt mùng lởm chởm thạch nhũ.Nhưng chỉ tại đây,con người mới hiểu vẻ đẹp hoang sơ,vẻ đẹp huy hoàng,vẻ tĩnh lặng của hoàng hôn trên biển rộng.Chỉ dùng kayak len lỏi vào những hòn đảo hoang vắng,bạn mới nắm bắt được vẻ đẹp của những tảng đá chồng chất chạy từ mép biển vào bờ, những rặng san hô chỉ cần dùng mắt thường cũng quan sát được,những đàn chim biển bay rào rạt trong nắng và còn vô vàn cảnh sắc chưa từng thấy in trong bất kỳ cuốn sách du lịch hoặc postcard nào.
Trong ngày đầu tiên,cơ bả vai và bắp tay rất đau.Song từ ngày thứ hai trở đi,sự mệt mỏi lan tỏa dần ra khắp cơ thể và để lại một tình trạng khá dễ chịu về thể xác,đồng thời tuyệt diệu về tinh thần.Chúng tôi chèo loanh quanh tại các khu vực có tiếng là đẹp nhất Hạ Long: Khu hang Luồn,Ba Trái Đào,Ba Hầm,Đầu Bê.Có lẽ khu Đầu Bê là gian nan nhất,bởi để hoàn thành chuyến đi,chúng tôi phải đi vòng quanh một hòn đảo,phía bên ngoài là đại dương xanh thẳm,phía trong là nơi cuối cùng của đảo Hạ Long.Không còn gì che chắn,sóng ở đó đánh rất dữ dội,và những đợt nước nhấp nhô khi biển động có thể đe dọa tới các con thuyền đánh cá.Khách du lịch dày dạn kinh nghiệm,những tay chèo đã từng chải qua những dòng sông Nam Mỹ ẩn hiện cá sấu,cá đuối điện và đầy thác đá cũng phải e dè sóng Đầu Bê.Ngoài đó không một con thuyền đánh cá nàolai vãng,còn tít ngoài khơi bóng dáng những con tàu chở hàng khổng lồ chỉ nhở như đồ chơi con nít.Để vượt qua chặng đường gian nan đó, người chèo kayak cần dồn hết sức vào cánh tay, và người điều khiển cánh lái cần biết né tránh những đợt sóng dữ,nương theo sóng để đưa thuyên đi đúng hướng.May mắn cho chúng tôi,bởi ngày hôm đó thuỷ thần đã mỉm cười với nụ cười thật hiền: Biển bình yên tới khó tin.Vài gợn sóng vỗ nhẹ dưới đáy thuyền,chỉ khi chạm bờ đá mới vọng lên tiếng gầm biển cả.Bọt sóng tuôn trào trên đá,và vách núi dưới tác động của hàng ngàn năm sóng cuộn đã tạo thành vô vàn hang dốc,những hõm những ghềnh tuyệt đẹp.Chúng tôi luồn lách trong con đường tạo bởi những tảng đá khổng lồ,ngắm nhìn bầy chim biển đậu chênh vênh trên mỏm đá và lắng nghe tiếng sóng đập vào vách đá.Chúng tôi lặng đi trước vẻ đẹp huy hoàng đến khó tin của trùng dương.
Nhìn về phía tay trái,cách một khoảng rộng chừng3-4km là quần đảo Cát Bà với những hòn đảo lô xô che kín chân trời.Phía trước là tít tắp biển khơi.Vậy mà lần trước không hiểu có anh chàng chèo kayak nào đã lạc từ Đầu Bê sang đó và mất hướng trở về điểm hẹn. Anh ta đã loanh quanh từ chiều tới 12h đêm mới tìm được ngư dân để kéo kayak về nơi tàu đợi.Nhìn khoảng biển rồng giữa hai quần đảo,tôi không hiểu nổi anh chàng kia ham ngắm cảnh hay đãng trí để có thể nhầm tai hại như vậy?Còn chúng tôi,dù có dùng hải đồ và Hùng có dầy dạn kinh nghiệm với các đảo Hạ Long,cũng có lần suýt lạc lối khi tìm đường đi tắt vào một vụng biển lô xô đá mọc.Một vụng biển bình yên với mặt nước xanh lơ và những con thuyền đánh cá đậu hờ hững,song ma quái như chính các mê cung thời cổ,khi sa vào rất khó tìm đường thoát ra.
Những hành trình bất tận
Chèo kayak trên biển vịnh Hạ Long là còn đưa con người trở về với thiên nhiên nhất,là lúc con người bộc lộ mọi khả năng tiềm ẩn nhất của con người. Khi đã ngồi vò khoang thuyền,mọi đồ vật mang theo chỉ là tối thiểu:Máy ảnh,kẹo hoặc đồ ăn vặt có thể cho vào túi khô-loại túi dù có vứt ra giữa biển cũng không thể nào chìm hoặc thấm nước.Trang phục trên người thật gọn,thật ngắn.Mũ rộng vành và một chai nước.Không thể trông cậy vào sự giúp đỡ của bất kỳ ai ngoài mái chèo và bánh lái.Song chỉ ngồi trên kayak và lướt êm trên sóng biển,chúng tôi mới được chiêm ngưỡng những đàn cá lướt rào rào trên mặt nước,ngắm nhìn những chú chim biển đậu trầm ngâm trên đá và dẫm chân lên những bờ cát trắng mịn không một dấu chân người trên các hòn đảo xa xôi.Quên đi những làn khói xăng khét lẹt,quên đi những phiền toái của cuộc sống đầy lo âu nơi thị thành.Khi đối diện cùng thiên nhiên rộng lớn,con người vừa cảm thấy vừa nhỏ nhoi , vừa mỏng manh.Cảm giác này cũng được khẳng định khi chúng tôi lần mò vào một chiếc hang rất lạ: Hang Hanh.
Tất nhiên là hang Hanh không nằm trong phạm vi quen thuộc của vịnh Hạ Long mà bên Vịnh Bái Tử Long.Biển ở đây không sạch và nhiều tàu du lịch như bên Hạ Long, và những dòng than được rót từ cầu cảng xuống tàu hàng khiến biển ở đây có một màu đục.Hang Hanh nằm sát bên mỏ Cẩm Phả, mặc dù không phải quá hiểm trở để tiếp cận,song chúng tôi cũng đã đánh vật tơi bời với lớp bùn dẻo quánh,một dòng nước lấp xấp nước và hàng triệu vỏ ốc nhỏ xíu,nhọn nằm lẫn trong bùn.Hệt như những kẻ lữ hành kỳ dị,chúng tôi kéo kayak qua bãi bùn rộng, chèo cật lực để ngược dòng nước về phía cửa hang.Một cửa hang phảng phất nét quái dị như trong hang thần Văn Dú như trong câu truyện Vàng và Máu của Thế Lữ.Cửa hang dưới chân núi,nơi có dòng nước ăn thông ra vịnh biển, phía trên vách đá im lìm ngôi miếu nhở.Một ngôi miếu rất nhỏ với cây đại khô cằn chênh vênh.Khi tất cả đã mệt nhoài vì dòng nước chảy ngược và chuẩn bị dồn sức để thám hiểm hang,chúng tôi ngồi trên kayak chắp tay về phía miếu.Những lời khấn thành kính trong buổi chiều tà nhuộm không gian xám.Phải nói khi đó tôi cũng chằng biết gì ngoài cầu nguyện,bởi ngoài chiếc đèn bin và đôi mái chèo,khi vào hang chúng tôi phải tự chinh phục bóng đêm,những bất trắc không lường trước và biết bao điều mà chỉ khi trong bóng tối,trí óc mới sản sinh ra.
Thực ra,đây là một hang hiền lành.Lòng hang hẹp,nước chảy bên dưới không quá dữ và ít xoáy ngầm,song cũng đủ cho Hùng vật lộn tới rã rời.Nhiều khúc quanh co ,song không có nhánh rẽ.Tuyệt vời nhất là không có nhánh rẽ,bởi chỉ cần có vài ngã ba,vài nhánh hang nhỏ chia cắt là chúng tôi sẽ lạc hướng trong bóng đêm vĩnh cửu của lòng đất âm u.Với ánh sáng lờ mờ không đủ sức xua bạt bóng đêm, chúng tôi tiến vào theo từng mái chèo,theo từng chặng đường gấp khúc.Cũng như các hang núi khác trên đời,hang Hanh có nhiều bãi cát ngầm,thạch nhũ rủ từ trần xuống và đá nhọn chìa ra từ vách . Theo lời cậu em chỉ dẫn,từ nhà tôi đã chuẩn bị đôi găng tay cho hành trình giữa bóng đêm nay-đề phòng những lúc phải dùng tay đầy vào vách đá và chống bị cắt da bởi đá nhọn,vỏ sò hóa thạch hoặc san hô...Hùng là người chèo kayak rất giỏi,với đôi mái chèo cậu ta đưa thuyên luồn lách qua những dòng nước xiết,xoáy quẩn và bãi đá nông.Càng đi vào khí lạnh từ lòng núi tỏa ra càng dữ dội,và đôi khi chúng thử tắt đèn để nếm trải cảm giác cô đơn tuyệt đối giữa lòng đất như thế nào.Rất khó tả và mỗi lần như vậy lại thấy kính phục những người thợ mỏ.Họ sống gần như suốt trong sự tĩnh lặng của đất đá,cách biệt khỏi thế giới ồn ào và mang lại cho đời những nguồn khoáng sản hữu ích
Gần 2 giờ loay hoay trong bóng đêm đã quá đủ cho những kẻ đi tìm cảm giác mạnh.Theo lời dân địa phương,hang Hanh trải dài khoảng1km và không có lối rẽ ,càng đi sâu càng tiến vào gần thị xã Cẩm Phả.Chúng tôi không đạt tới tân cùng để nghe tiếng xe chạy trên đầu như lời đồn đại trong giới hướng dẫn.Khi thuyền lướt theo dòng nước để ra ngoài vùng sáng.Hùng thở dài.Chúng tôi cùng thở dài vì biết mình đã vượt qua một thử thách.Và khi đã tiến ra biển rộng nhìn ánh đèn lấp lánh từ thuyền lớn hẳt xuống mặt nước,chúng tôi lại thở dài lần nữa,lần này là thở dài khoan khoái vì biết mình sắp được chén bữa tối có canh nóng.Món canh cá rìa-một loài cá mỏng thân dẹt lởm chởm răng rất hung dữ.Hệt như cá ăn thịt vùng Amazon.Trưa nay chúng tôi đã mua 2kg từ tay gã ngư phủ cau có với gía 40 000d/kg.Những tay đầu bếp trên thuyền rất ưa chuộng món cá rìa nấu gừng. Chúng tôi cũng ưa chuộng không kém,bởi sau một ngày lạnh cóng trên biển và mệt nhoài với dòng nước xiết canh cá rìa nấu gừng sẽ giúp cơ thể ấm lên xua tan mệt mỏi.Và may mắn hơn là chai Chivas tôi mang theo từ Hà Nội vẫn còn khoảng một nửa.Đủ cho một buổi tối bình yên gíữa biển đêm.Song không bao giờ kết thúc cho cuộc khám phá,bởi dù có ở trên biển Hạ Long tới 1 năm,chúng tôi cũng chưa thể nào khám phá hết vẻ đẹp của biển
Khu nghỉ mát Phia Đén nằm lưng chưng trên dãy Phia Oắc,( xã Thành công,Nguyên Bình ,Cao Bằng) có từ đầu thế kỷ 20.Nơi đây nổi tiếng tiếng với những khu rừng nguyên sinh,bãi cỏ xanh mướt,khí hậu quanh năm mát mẻ,đất thích hợp trồng rau xanh bốn mùa,trồng các loại hoa..Được ví như Đà Lạt thu nhỏ của Cao Bằng nhưng đã lâu lăm rồi, Phia Đén bị “ bỏ quên” và không biết đến bao giờ mới được đánh thức, cho dù các cấp lãnh đạo tỉnh Cao Bằng luôn nói tới tiềm năng du lịch to lớn của Phia Đén.
Những năm đầu thế kỷ 20,để phục vụ cho việc khai khoáng quăng volfram,quặng thiếc tại khu mỏ Tĩnh Túc,người Pháp đã mở tuyến giao thông ( đường 3B) từ Nà Phặc( Bắc Kạn) đến Nguyên Bình (qua địa phận Phia Đén).Khí hậu quanh năm mát mẻ,đất đai màu mỡ, họ đã xây dựng tại Phia Đén một khu nghỉ mát.Hòa Bình lập lại năm1954, chúng ta đã khôi phục việc khai thác mỏ thiếc Tĩnh Túc nhưng khu nghỉ mát Phia Đén thì lại bị “bỏ quên”
Ngày nay nhu cầu đi du lịch ,tham quan nghỉ mát ngày càng phat triển,các điểm du lịch ở Cao Bằng như Pác Póm,thác Bản Dốc... đã được chú trọng đầu tư nhiều,nhưng khu du lịch Phia Đén chỉ được mời chào bằng những hình ảnh trong những ấn phẩm quảng bá du lịch còn trên thực tế lại chưa có gì.Cơ sờ hạ tầng chưa được nâng cấp: Không nhà nghỉ( nhà nghỉ do Pháp xây dựng đã trở thành nhà hoang),không điện, chưa có một quy hoạch và chiến lược để biến Phia Đén thành một điểm du lịch hấp dẫn.
Phia Đén rất cần được đầu tư xây dựng để biến nơi đây thành một điểm du lịch,du khách đến đây để đi dưới hàng thông reo,ngắm nhìn đồng cỏ xanh bất tận,những vườn hoa quanh năm xanh màu hoa trái; được đứng trên đỉnh đèo cô Lê A nhớ về cô kỹ sư giao thông người Pháp,được nghe kể sự tích núi Đèn Thờ của người Mông và nói về ngon nguồn núi Phía Oắc…
Giờ đây ,quốc lộ 3 được nâng cấp mở rộng.Từ Hà Nội đến Nà Phặc chỉ 200km,rẽ trái lên đến Phia Đén 30 km là đã có thể gặp gỡ giao lưu với một Đà Lạt mộng mơ,một Tam Đảo huyền ảo,gặp lại thần đèn trên đỉnh núi cao trong sáng và huyền bí mời gọi! Mong rằng Phia Đén sẽ bừng thức nay mai
Xứ Lạng giàu có trước hết bởi những danh lam thắng cảnh nức tiếng từ lâu, nào ngắm cảnh Mẫu Sơn trên độ cao hơn 1.500 m bốn mùa mây phủ, bước chân vào Tam Thanh, Nhị Thanh - bức tranh hang động làm say đắm lòng người, đi chợ Đông Kinh bỗng thấy hiện ra một nhịp sống vô cùng hiện đại bởi hàng hóa dồi dào, người mua kẻ bán tấp nập đông vui… Hướng dẫn viên đưa khách tới ải Chi Lăng chạy dài gần 20 km, rộng 3 km - vùng đất địa linh nhân kiệt gắn liền với những chiến công ở miền biên ải phía Bắc, Phạm Sư Mạnh từng để lại nơi đây câu thơ bất hủ “Chi Lăng ải hiểm tựa lên trời”.
Chỉ đặc sản ở Lạng Sơn cũng đã xứng đáng trở thành một chuyến du lịch ẩm thực riêng. Heo non được tẩm ướp gia vị và nhồi lá mác mật quay trên vạc than cháy hồng. Giữa tiết trời lạnh giá của xứ Lạng, bên bếp than thưởng thức miếng thịt heo quay thoảng vị mật ong ngấm vào bì màu vàng sẫm và giòn thơm thì thật là tuyệt. Ngoài heo quay thì đặc sản vịt quay xứ Lạng cũng lan truyền tiếng thơm bởi vị đậm đà, thịt mềm ngọt. Dễ dàng nhận thấy các món nóng, món nướng ở Lạng Sơn luôn vô cùng phong phú bởi tiết trời lạnh càng khiến người ta háo hức với những hương vị đang bốc khói ngào ngạt. Thực đơn của du khách vẫn tiếp tục dày lên với những món cần phải ăn khi như phở chua, cải ngồng xào, măng chua…
Du hành vào mùa xuân du khách có cơ hội tham gia những lễ hội dân gian trên vùng đất khoáng đạt này: lễ hội chùa Tam Thanh mở ngày 15 tháng Giêng, lễ hội chùa Tiên vào ngày 18 tháng Giêng, lễ hội đền Kỳ Cùng từ 22-27 tháng Giêng, hội Lồng Tồng (xuống đồng) của người Nùng, người Tày
Mộc Châu xanh ngắt những nương chè.Những nương chè tiếp những nương chè.Núi rưng trùng điệp và trời xanh lồng lộng.Những cô công nhân hái chè che kín mặt dưới vành nón nhưng nghe giọng nói trong veo cũng đủ biết tuổi chỉ chừng đôi mươi. Cao nguyên Mộc Châu nằm ở độ cao 1.050m bao bọc giữa bốn bề rừng núi.Khí hậu mát mẻ khiến cho dù đi giữa trời mưa vẫn thấy da thịt mơn man dễ chịu.Đây là nơi thích hợp để giống chè shan tuyết phát triển hàng ngàn hecta chè trải dai khắp bình nguyên cho năng suất và chất lượng vào loại cao nhất Việt Nam,khiến thương hiệu chè shan tuyết Mộc Châu được Châu Âu cấp đăng bạ hai tên gọi xuất xứ đầu tiên của Việt Nam cùng nước mắm Phú Quốc
Mộc Châu xanh ngát và thơm ngọt một mùi hương của che shan khiến du khách không thể không một lần lên thăm.
Cao nguyên Mộc Châu thuộc tỉnh Sơn La,cách HàNội 200km về phía Tây Bắc có độ cao trung bình1.050m so với mực nước biển.Du khách có thể đi xe máy hoặc xe khách chất lượng cao theo quốc lộ 6 đã được sửa chữa nâng cấp,chỉ mất khoảng 4 đến 5 tiếng đồng hồ.Cao nguyên Mộc Châu có 2 thị trấn là thị trấn Thảo Nguyên và thị trấn huyện lỵ Mộc Châu,chỉ cách nhau chừng 5km.Thời tiết ở đây quanh năm mát mẻ.thấp hơn từ 3°C đến 5˚C so với thị xã Sơn La nên rất thích hợp để du khách đến nghỉ dưỡng và thăm thú các bản làng xung quanh.Đặc sản ở đây ngoài cây chè shan tuyết còn có các loại hoa quả khác như mân,đào ,lê và các sản phẩm từ bò sữa…Giá phòng khách sạn khá rẻ,từ 100-150.000đồng phòng/đêm.Ở cả hai thị trấn đều có khách sạn của nhà nước và tư nhân như KS Công đoàn…
Bản quyền thuộc Công ty TNHH Du Lịch Tre Việt Địa chỉ: Số 14, Tổ 11, Trung Hoà, Cầu Giấy, Hà Nội
Điện thoại: 04.37843989-04.62914448 fax 04.37868247 Email:treviet@treviettours.com- Website:Http://www.treviettours.com
Chi nhánh tại Ninh Bình: Địa chỉ: Số 239, Đường Hải Thượng Lãn Ông, TP Ninh Bình
Điện thoại: 030 873164 - Fax: 04 7843989- 0989082938